Về việc xác định hung khí nguy hiểm

Điểm 3.1 mục 3 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã hướng dẫn áp dụng tình tiết "Dùng hung khí nguy hiểm" để cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điểm a, khoản 1 Điều 104 BLHS) là những trường hợp dùng vũ khí hoặc phương tiện nguy hiểm theo hướng dẫn tại các tiểu mục 2.1 và 2.2 mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Như vậy, hung khí nguy hiểm được hiểu theo nghĩa rộng hơn; hung khí nguy hiểm có thể là vũ khí hoặc phương tiện phạm tội.

Phương tiện nguy hiểm dùng để phạm tội là những dụng cụ, công cụ được chế tạo để phục vụ cuộc sống, cũng có thể là vật có sẵn trong tự nhiên hoặc do người phạm tội tự tạo ra để làm phương tiện phạm tội. Dù nguồn gốc nào chăng nữa, nếu người phạm tội sử dụng những phương tiện này thì có thể gây thương tích, tổn hại sức khỏe hoặc xâm phạm tính mạng của người khác.

Về việc xác định hung khí nguy hiểm

Ví dụ: dùng xe máy, xe ô tô để giết người; mài thanh sắt nhọn để đâm người, dùng hòn đá, cành cây cứng để tấn công người khác…

Ví dụ: A dùng dao nhọn để tấn công B và gây thương tích cho B, hành vi phạm tội của A có tình tiết "dùng hung khí nguy hiểm" quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 BLHS.

Bản thân hung khí nguy hiểm đã chứa đựng khả năng gây ra nguy hiểm. Tuy nhiên tính nguy hiểm của hung khí đó đến đâu còn phụ thuộc vào khả năng sử dụng của người sử dụng các hung khí nguy hiểm đó.

Ví dụ: Người sử dụng súng tiểu liên AK bắn từng viên đạn vào đám đông ít nguy hiểm hơn trường hợp họ để nấc liên thanh nhằm vào đám đông để bắn; Một người dùng Axít để gây thương tích cho người khác, nếu họ cho axít vào chai để vẩy thì khả năng gây thương tích hạn chế hơn so với việc họ cho vào bát để hắt vào người khác…

Mặt khác, hung khí phạm tội có nhiều loại và tính nguy hiểm của các loại hung khí cũng khác nhau. Ví dụ súng nguy hiểm hơn dao găm, lựu đạn nguy hiểm hơn lưỡi lê; ô tô nguy hiểm hơn xe máy; thuốc mê nguy hiểm hơn thuốc ngủ v.v…

Khi xem xét, xác định hung khí nguy hiểm (vũ khí, phương tiện phạm tội) cần chú ý phân biệt với tình tiết "sử dụng thủ đoạn nguy hiểm" hay "dùng thủ đoạn nguy hiểm".

Sử dụng thủ đoạn nguy hiểm là ngoài việc sử dụng vũ khí, phương tiện nguy hiểm để tấn công người khác thì người phạm tội có thể gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe hoặc tính mạng của nhiều người khác.

Ví dụ: dùng xăng đốt nhà; đặt mìn nhà người khác; bỏ thuốc độc vào nguồn nước sinh hoạt của người khác…

Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

Theo Điều 95 BLHS thì "Người nào giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm."

Thực chất, trước đây tội danh này là tình tiết định khung hình phạt giảm nhẹ của tội giết người (khoản 3 Điều 101 BLHS 1985), nay được tách ra thành Điều 95 BLHS 1999.

Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

Phạm tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân. Vậy thế nào là trái pháp luật nghiêm trọng? Vấn đề này cũng có nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng trái pháp luật nghiêm trọng là việc nạn nhân đã thực hiện những hành vi mà những hành vi đó đã thỏa mãn các yếu tố để cấu thành một tội phạm hình sự. Chúng tôi đồng tình với quan điểm này và cho rằng, ngoài ra hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân không chỉ trong lĩnh vực pháp luật hình sự mà rộng hơn còn có thể trái pháp luật trong lĩnh vực pháp luật khác. Ví dụ như nợ nhưng cố tình dây dưa không trả, còn thách đố, các hành vi thường xuyên chèn ép, hành hạ, ngược đãi…

Tuy nhiên, theo điều luật thì hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân phải trực tiếp với người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội. Người thân thích của người phạm tội là cha, mẹ, vợ, con, ông, bà, anh chị em ruột. Trong thực tiễn, cũng có những trường hợp mặc dù không phải là người thân thích, nhưng nếu người phạm tội thấy nạn nhân có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của người đó với người khác mà thực hiện hành vi phạm tội thì có được coi là trạng thái tinh thần bị kích động mạnh không?

Ví dụ: đánh đập dã man trẻ em, phụ nữ? Căn cứ vào quy định của Điều 95 BLHS thì không phải là bị kích động mạnh và đương nhiên là người phạm tội không "được hưởng" điều luật này mà phải chịu hình phạt của Điều 93 BLHS. Vấn đề này chúng tôi nêu ra để suy nghĩ và theo quan điểm của chúng tôi thì có lẽ cần bổ sung vào Điều 95 BLHS tình tiết hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân không chỉ đối với người phạm tội, người thân thích của người phạm tội và đối với cả người khác thì phù hợp hơn với đạo lý "ra đường thấy việc bất bình chẳng tha".

Phân biệt tội giết người và tội cố gây thương tích

Phân biệt tội giết người quy định tại khoản 2 Điều 93 Bộ Luật hình sự (BLHS) với tội cố ý gây thương tích quy định tại khoản 3 Điều 104 BLHS

- Khoản 2 Điều 93 quy định: "Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm."

Như vậy, nhà làm luật đã thiết kế Điều 93 BLHS tương đối đặc biệt hơn so với các Điều luật khác trong phần tội phạm, đó là cấu thành cơ bản của tội phạm ở khoản 1 điều này lại là cấu thành tăng nặng và khoản 2 của điều luật này lại là cấu thành giảm nhẹ. Theo đó nếu như không có 16 tình tiết tăng nặng tại các điểm từ a đến q của khoản 1. (Thực ra không phải chỉ có 16 tình tiết tăng nặng mà trong các điểm còn có thiết kế ghép các tình tiết tăng nặng khác nhau. Ví dụ, điểm d "giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân" hoặc điểm đ "giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình"), thì người phạm tội chỉ bị xử phạt theo khoản 2 Điều 93 BLHS, trong nghề Tòa án vẫn gọi là giết người thông thường.

- Khoản 3 Điều 104 BLHS quy định "Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm".

Phân biệt tội giết người và tội cố gây thương tích
Ảnh minh họa

Trong các tình tiết định tội ở khung cơ bản của Điều 104 BLHS có những tình tiết giống như tình tiết tăng nặng tại khoản 1Điều 93 BLHS. Ví dụ như điểm d "đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già yếu, ốm đau…"; điểm đ "Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình"; điểm e "có tổ chức"; điểm h, điểm i và điểm k "Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê"; "Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm"; "Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân". Tuy nhiên, các tình tiết của khoản 1 Điều 104 BLHS là tình tiết định tội cho những trường hợp tỷ lệ thương tích dưới 11%, còn các tình tiết tại khoản 1 Điều 93 BLHS là các tình tiết định khung tăng nặng.

- Tội cố ý gây thương tích ở khoản 3 Điều 104 BLHS và tội giết người theo khoản 2 Điều 93 BLHS khác nhau ở một số điểm sau đây:

+ Về ý thức chủ quan: Cố ý giết người và cố ý gây thương tích

+ Về hậu quả: Chết người và chỉ là thương tích.

Tuy nhiên trong thực tiễn xét xử, việc xác định ý thức chủ quan của bị cáo là rất khó khăn trong trường hợp không xác định ý thức chủ quan của bị cáo là giết người. Những trường hợp này thì hậu quả đến đâu, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đến đấy.

Cũng có quan điểm cho rằng khi không xác định rõ ý thức chủ quan của bị cáo, nhưng hành vi khách quan thì thể hiện rõ không phải là chỉ cố ý gây thương tích mà là cố ý tước đoạt sinh mạng của người khác thì bị cáo phạm tội giết người. Ví dụ nhưng dùng hung khí nguy hiểm như mã tấu, dao, súng nhằm vào những bộ phận quan trọng của cơ thể người khác để chém, đấm, bắn thì cho dù hậu quả không dẫn tới chết người thì cũng phạm tội giết người. Quan điểm này cho rằng khi sử dụng các hung khí, phương tiện nguy hiểm đó buộc bị cáo phải nhận thức được có thể dẫn tới tước đoạt tính mạng của người khác.

Theo chúng tôi, việc định tội danh giết người trong những trường hợp này là đúng mặc dù hậu quả chưa xảy ra và Tòa án có thể áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm 1 khoản 1 Điều 48 BLHS "bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người". Sử dụng phương pháp có khả  năng làm chết nhiều người là những hành vi như ném lựu đạn vào chỗ đông người, bắn súng vào chỗ đông người, đặt mìn, dùng xe ô tô lao vào chỗ đông người, bỏ thuốc độc vào nguồn nước hoặc thức ăn v.v…

Phân biệt tội hiếp dâm và tội cưỡng dâm

Hiếp dâm và cưỡng dâm là những tội phạm về tình dục, xâm phạm đến quyền tự do, nhân phẩm, danh dự của người khác. Xét ở một góc độ nào đó thì hai tội phạm này đều trái hoặc không đúng ý muốn về tình dục của người khác.

Theo Điều 111 BLHS thì Hiếp dâm là "dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ"; Cưỡng dâm (Điều 113) là "dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu".

Phân biệt tội hiếp dâm và tội cưỡng dâm
Ảnh Minh Họa

Sự khác biệt giữa hai tội này là ở đối tượng (nạn nhân). Đối với tội hiếp dâm thì nạn nhân là bất cứ ai, còn đối với tội cưỡng dâm thì nạn nhân phải là người lệ thuộc với người phạm tội hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách.

Hành vi khách quan trong tội hiếp dâm và cưỡng dâm có thể gần giống nhau vì trong tội cưỡng dâm, người phạm tội có thể dùng mọi thủ đoạn như đe dọa, khống chế, thậm chí có thể dùng bạo lực. Chẳng hạn đánh đập người bị lệ thuộc để họ sợ và miễn cưỡng phải giao cấu.

Trong tội hiếp dâm, người phạm tội có thể lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân để giao cấu. Tình trạng này không thể tự vệ được của nạn nhân có thể là họ đã bị ngất xỉu, bị bỏ thuốc mê, bị bắt trói chân tay… Còn tình trạng quẫn bách của người bị hại (nạn nhân) trong vụ án cưỡng dâm là người bị hại vẫn còn nhận thức được, còn khả năng tự vệ nhưng vì sự lệ thuộc hoặc đang ở trong tình trạng quẫn bách không còn con đường nào khác mà buộc phải giao cấu.

Phân biệt tội Cướp tài sản với một số tội có tính chất chiếm đoạt tài sản khác

Tội "Cưỡng đoạt tài sản" quy định tại Điều 135 BLHS có hành vi khách quan "đe doạ sẽ dùng vũ lực…" là hành vi doạ sẽ gây thiệt hại đến sức khoẻ, tính mạng trong tương lai nếu không thoả mãn yêu cầu chiếm đoạt của người phạm tội. Khác với tội "Cướp tài sản" đe doạ "dùng vũ lực ngay tức khắc" thì tội "Cưỡng đoạt tài sản" là đe doạ "sẽ dùng vũ lực" tức là dùng vũ lực trong tương lai, có khoảng cách về thời gian. Sự đe doạ này không có tính nguy hiểm như tội cướp. Người bị đe doạ còn có điều kiện để chống cự lại, có thời gian để báo cáo với cơ quan có thẩm quyền xử lý trước khi hành vi chiếm đoạt xảy ra.

Tội "Công nhiên chiếm đoạt tài sản", tội "Cướp giật tài sản" và tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại các điều 136, 137, 138 BLHS, đối với các tội phạm này, hành vi khách quan ban đầu khác nhau, người có hành vi cướp giật tài sản và công nhiên chiếm đoạt tài sản là hành vi công khai, không có ý định che dấu hành vi đó. Đối với tội cướp giật tài sản là lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản, người pham tội nhanh chóng tiếp cận chủ sở hữu tài sản để chiếm đoạt và lẩn tránh. Đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản thì công khai, lợi dụng hoàn cảnh chủ tài sản không có điều kiện ngăn cản để chiếm đoạt tài sản. Đối với tội "Trộm cắp tài sản" thì người phạm tội lén lút chiếm đoạt tài sản

phân biệt cướp tài sản
Ảnh mang tính minh họa

Chú ý: trong các trường hợp trên, nếu người phạm tội đang trong giai đoạn chiếm đoạt tài sản như vừa cầm được tài sản trong tay người bị hại thì người bị hại giành giật lại, hoặc đang trong lúc giằng co tài sản mà người phạm tội đánh, đấm, đâm, chém… người bị hại để chiếm đoạt bằng được tài sản đó thì lúc này người phạm tội đã dùng vũ lực ngay tức khắc nhằm chiếm đoạt tài sản và do đó chuyển hoá thành tội "Cướp tài sản". Tuy nhiên trong trường hợp hành vi phạm tội trên đã hoàn thành, nhưng do bị phát hiện đuổi bắt mà đánh, chém… người bị hại hoặc người đuổi bắt thì đây chỉ là hành hung để tẩu thoát. Ví dụ: một người có hành vi trộm cắp tiền của người khác, khi họ vừa móc túi người bị hại, người bị hại giữ được tay họ đang cầm ví tiền, hai người đang giằng co, người phạm tội đấm, đánh người kia, làm họ bỏ tay ra, người phạm tội đút ví tiền vào túi của mình rồi chạy trốn thì trường hợp này tội trộm cắp tài sản đã chuyển hoá thành tội “Cướp tài sản”. Nếu người phạm tội đã lấy được tài sản và bỏ đi một đoạn, người bị hại phát hiện mất trộm, nên đuổi theo bắt người phạm tội và bị đánh trả thì vẫn là tội trộm cắp tài sản với tình tiết định khung hình phạt: “hành hung để tẩu thoát” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 138 BLHS.
home