Về việc xác định hung khí nguy hiểm

Điểm 3.1 mục 3 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã hướng dẫn áp dụng tình tiết "Dùng hung khí nguy hiểm" để cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điểm a, khoản 1 Điều 104 BLHS) là những trường hợp dùng vũ khí hoặc phương tiện nguy hiểm theo hướng dẫn tại các tiểu mục 2.1 và 2.2 mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Như vậy, hung khí nguy hiểm được hiểu theo nghĩa rộng hơn; hung khí nguy hiểm có thể là vũ khí hoặc phương tiện phạm tội.

Phương tiện nguy hiểm dùng để phạm tội là những dụng cụ, công cụ được chế tạo để phục vụ cuộc sống, cũng có thể là vật có sẵn trong tự nhiên hoặc do người phạm tội tự tạo ra để làm phương tiện phạm tội. Dù nguồn gốc nào chăng nữa, nếu người phạm tội sử dụng những phương tiện này thì có thể gây thương tích, tổn hại sức khỏe hoặc xâm phạm tính mạng của người khác.

Về việc xác định hung khí nguy hiểm

Ví dụ: dùng xe máy, xe ô tô để giết người; mài thanh sắt nhọn để đâm người, dùng hòn đá, cành cây cứng để tấn công người khác…

Ví dụ: A dùng dao nhọn để tấn công B và gây thương tích cho B, hành vi phạm tội của A có tình tiết "dùng hung khí nguy hiểm" quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 BLHS.

Bản thân hung khí nguy hiểm đã chứa đựng khả năng gây ra nguy hiểm. Tuy nhiên tính nguy hiểm của hung khí đó đến đâu còn phụ thuộc vào khả năng sử dụng của người sử dụng các hung khí nguy hiểm đó.

Ví dụ: Người sử dụng súng tiểu liên AK bắn từng viên đạn vào đám đông ít nguy hiểm hơn trường hợp họ để nấc liên thanh nhằm vào đám đông để bắn; Một người dùng Axít để gây thương tích cho người khác, nếu họ cho axít vào chai để vẩy thì khả năng gây thương tích hạn chế hơn so với việc họ cho vào bát để hắt vào người khác…

Mặt khác, hung khí phạm tội có nhiều loại và tính nguy hiểm của các loại hung khí cũng khác nhau. Ví dụ súng nguy hiểm hơn dao găm, lựu đạn nguy hiểm hơn lưỡi lê; ô tô nguy hiểm hơn xe máy; thuốc mê nguy hiểm hơn thuốc ngủ v.v…

Khi xem xét, xác định hung khí nguy hiểm (vũ khí, phương tiện phạm tội) cần chú ý phân biệt với tình tiết "sử dụng thủ đoạn nguy hiểm" hay "dùng thủ đoạn nguy hiểm".

Sử dụng thủ đoạn nguy hiểm là ngoài việc sử dụng vũ khí, phương tiện nguy hiểm để tấn công người khác thì người phạm tội có thể gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe hoặc tính mạng của nhiều người khác.

Ví dụ: dùng xăng đốt nhà; đặt mìn nhà người khác; bỏ thuốc độc vào nguồn nước sinh hoạt của người khác…

Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

Theo Điều 95 BLHS thì "Người nào giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm."

Thực chất, trước đây tội danh này là tình tiết định khung hình phạt giảm nhẹ của tội giết người (khoản 3 Điều 101 BLHS 1985), nay được tách ra thành Điều 95 BLHS 1999.

Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

Phạm tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân. Vậy thế nào là trái pháp luật nghiêm trọng? Vấn đề này cũng có nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng trái pháp luật nghiêm trọng là việc nạn nhân đã thực hiện những hành vi mà những hành vi đó đã thỏa mãn các yếu tố để cấu thành một tội phạm hình sự. Chúng tôi đồng tình với quan điểm này và cho rằng, ngoài ra hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân không chỉ trong lĩnh vực pháp luật hình sự mà rộng hơn còn có thể trái pháp luật trong lĩnh vực pháp luật khác. Ví dụ như nợ nhưng cố tình dây dưa không trả, còn thách đố, các hành vi thường xuyên chèn ép, hành hạ, ngược đãi…

Tuy nhiên, theo điều luật thì hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân phải trực tiếp với người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội. Người thân thích của người phạm tội là cha, mẹ, vợ, con, ông, bà, anh chị em ruột. Trong thực tiễn, cũng có những trường hợp mặc dù không phải là người thân thích, nhưng nếu người phạm tội thấy nạn nhân có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của người đó với người khác mà thực hiện hành vi phạm tội thì có được coi là trạng thái tinh thần bị kích động mạnh không?

Ví dụ: đánh đập dã man trẻ em, phụ nữ? Căn cứ vào quy định của Điều 95 BLHS thì không phải là bị kích động mạnh và đương nhiên là người phạm tội không "được hưởng" điều luật này mà phải chịu hình phạt của Điều 93 BLHS. Vấn đề này chúng tôi nêu ra để suy nghĩ và theo quan điểm của chúng tôi thì có lẽ cần bổ sung vào Điều 95 BLHS tình tiết hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân không chỉ đối với người phạm tội, người thân thích của người phạm tội và đối với cả người khác thì phù hợp hơn với đạo lý "ra đường thấy việc bất bình chẳng tha".

Phân biệt tội giết người và tội cố gây thương tích

Phân biệt tội giết người quy định tại khoản 2 Điều 93 Bộ Luật hình sự (BLHS) với tội cố ý gây thương tích quy định tại khoản 3 Điều 104 BLHS

- Khoản 2 Điều 93 quy định: "Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm."

Như vậy, nhà làm luật đã thiết kế Điều 93 BLHS tương đối đặc biệt hơn so với các Điều luật khác trong phần tội phạm, đó là cấu thành cơ bản của tội phạm ở khoản 1 điều này lại là cấu thành tăng nặng và khoản 2 của điều luật này lại là cấu thành giảm nhẹ. Theo đó nếu như không có 16 tình tiết tăng nặng tại các điểm từ a đến q của khoản 1. (Thực ra không phải chỉ có 16 tình tiết tăng nặng mà trong các điểm còn có thiết kế ghép các tình tiết tăng nặng khác nhau. Ví dụ, điểm d "giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân" hoặc điểm đ "giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình"), thì người phạm tội chỉ bị xử phạt theo khoản 2 Điều 93 BLHS, trong nghề Tòa án vẫn gọi là giết người thông thường.

- Khoản 3 Điều 104 BLHS quy định "Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm".

Phân biệt tội giết người và tội cố gây thương tích
Ảnh minh họa

Trong các tình tiết định tội ở khung cơ bản của Điều 104 BLHS có những tình tiết giống như tình tiết tăng nặng tại khoản 1Điều 93 BLHS. Ví dụ như điểm d "đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già yếu, ốm đau…"; điểm đ "Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình"; điểm e "có tổ chức"; điểm h, điểm i và điểm k "Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê"; "Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm"; "Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân". Tuy nhiên, các tình tiết của khoản 1 Điều 104 BLHS là tình tiết định tội cho những trường hợp tỷ lệ thương tích dưới 11%, còn các tình tiết tại khoản 1 Điều 93 BLHS là các tình tiết định khung tăng nặng.

- Tội cố ý gây thương tích ở khoản 3 Điều 104 BLHS và tội giết người theo khoản 2 Điều 93 BLHS khác nhau ở một số điểm sau đây:

+ Về ý thức chủ quan: Cố ý giết người và cố ý gây thương tích

+ Về hậu quả: Chết người và chỉ là thương tích.

Tuy nhiên trong thực tiễn xét xử, việc xác định ý thức chủ quan của bị cáo là rất khó khăn trong trường hợp không xác định ý thức chủ quan của bị cáo là giết người. Những trường hợp này thì hậu quả đến đâu, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đến đấy.

Cũng có quan điểm cho rằng khi không xác định rõ ý thức chủ quan của bị cáo, nhưng hành vi khách quan thì thể hiện rõ không phải là chỉ cố ý gây thương tích mà là cố ý tước đoạt sinh mạng của người khác thì bị cáo phạm tội giết người. Ví dụ nhưng dùng hung khí nguy hiểm như mã tấu, dao, súng nhằm vào những bộ phận quan trọng của cơ thể người khác để chém, đấm, bắn thì cho dù hậu quả không dẫn tới chết người thì cũng phạm tội giết người. Quan điểm này cho rằng khi sử dụng các hung khí, phương tiện nguy hiểm đó buộc bị cáo phải nhận thức được có thể dẫn tới tước đoạt tính mạng của người khác.

Theo chúng tôi, việc định tội danh giết người trong những trường hợp này là đúng mặc dù hậu quả chưa xảy ra và Tòa án có thể áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm 1 khoản 1 Điều 48 BLHS "bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người". Sử dụng phương pháp có khả  năng làm chết nhiều người là những hành vi như ném lựu đạn vào chỗ đông người, bắn súng vào chỗ đông người, đặt mìn, dùng xe ô tô lao vào chỗ đông người, bỏ thuốc độc vào nguồn nước hoặc thức ăn v.v…

Phân biệt tội hiếp dâm và tội cưỡng dâm

Hiếp dâm và cưỡng dâm là những tội phạm về tình dục, xâm phạm đến quyền tự do, nhân phẩm, danh dự của người khác. Xét ở một góc độ nào đó thì hai tội phạm này đều trái hoặc không đúng ý muốn về tình dục của người khác.

Theo Điều 111 BLHS thì Hiếp dâm là "dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ"; Cưỡng dâm (Điều 113) là "dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu".

Phân biệt tội hiếp dâm và tội cưỡng dâm
Ảnh Minh Họa

Sự khác biệt giữa hai tội này là ở đối tượng (nạn nhân). Đối với tội hiếp dâm thì nạn nhân là bất cứ ai, còn đối với tội cưỡng dâm thì nạn nhân phải là người lệ thuộc với người phạm tội hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách.

Hành vi khách quan trong tội hiếp dâm và cưỡng dâm có thể gần giống nhau vì trong tội cưỡng dâm, người phạm tội có thể dùng mọi thủ đoạn như đe dọa, khống chế, thậm chí có thể dùng bạo lực. Chẳng hạn đánh đập người bị lệ thuộc để họ sợ và miễn cưỡng phải giao cấu.

Trong tội hiếp dâm, người phạm tội có thể lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân để giao cấu. Tình trạng này không thể tự vệ được của nạn nhân có thể là họ đã bị ngất xỉu, bị bỏ thuốc mê, bị bắt trói chân tay… Còn tình trạng quẫn bách của người bị hại (nạn nhân) trong vụ án cưỡng dâm là người bị hại vẫn còn nhận thức được, còn khả năng tự vệ nhưng vì sự lệ thuộc hoặc đang ở trong tình trạng quẫn bách không còn con đường nào khác mà buộc phải giao cấu.

Phân biệt tội Cướp tài sản với một số tội có tính chất chiếm đoạt tài sản khác

Tội "Cưỡng đoạt tài sản" quy định tại Điều 135 BLHS có hành vi khách quan "đe doạ sẽ dùng vũ lực…" là hành vi doạ sẽ gây thiệt hại đến sức khoẻ, tính mạng trong tương lai nếu không thoả mãn yêu cầu chiếm đoạt của người phạm tội. Khác với tội "Cướp tài sản" đe doạ "dùng vũ lực ngay tức khắc" thì tội "Cưỡng đoạt tài sản" là đe doạ "sẽ dùng vũ lực" tức là dùng vũ lực trong tương lai, có khoảng cách về thời gian. Sự đe doạ này không có tính nguy hiểm như tội cướp. Người bị đe doạ còn có điều kiện để chống cự lại, có thời gian để báo cáo với cơ quan có thẩm quyền xử lý trước khi hành vi chiếm đoạt xảy ra.

Tội "Công nhiên chiếm đoạt tài sản", tội "Cướp giật tài sản" và tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại các điều 136, 137, 138 BLHS, đối với các tội phạm này, hành vi khách quan ban đầu khác nhau, người có hành vi cướp giật tài sản và công nhiên chiếm đoạt tài sản là hành vi công khai, không có ý định che dấu hành vi đó. Đối với tội cướp giật tài sản là lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản, người pham tội nhanh chóng tiếp cận chủ sở hữu tài sản để chiếm đoạt và lẩn tránh. Đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản thì công khai, lợi dụng hoàn cảnh chủ tài sản không có điều kiện ngăn cản để chiếm đoạt tài sản. Đối với tội "Trộm cắp tài sản" thì người phạm tội lén lút chiếm đoạt tài sản

phân biệt cướp tài sản
Ảnh mang tính minh họa

Chú ý: trong các trường hợp trên, nếu người phạm tội đang trong giai đoạn chiếm đoạt tài sản như vừa cầm được tài sản trong tay người bị hại thì người bị hại giành giật lại, hoặc đang trong lúc giằng co tài sản mà người phạm tội đánh, đấm, đâm, chém… người bị hại để chiếm đoạt bằng được tài sản đó thì lúc này người phạm tội đã dùng vũ lực ngay tức khắc nhằm chiếm đoạt tài sản và do đó chuyển hoá thành tội "Cướp tài sản". Tuy nhiên trong trường hợp hành vi phạm tội trên đã hoàn thành, nhưng do bị phát hiện đuổi bắt mà đánh, chém… người bị hại hoặc người đuổi bắt thì đây chỉ là hành hung để tẩu thoát. Ví dụ: một người có hành vi trộm cắp tiền của người khác, khi họ vừa móc túi người bị hại, người bị hại giữ được tay họ đang cầm ví tiền, hai người đang giằng co, người phạm tội đấm, đánh người kia, làm họ bỏ tay ra, người phạm tội đút ví tiền vào túi của mình rồi chạy trốn thì trường hợp này tội trộm cắp tài sản đã chuyển hoá thành tội “Cướp tài sản”. Nếu người phạm tội đã lấy được tài sản và bỏ đi một đoạn, người bị hại phát hiện mất trộm, nên đuổi theo bắt người phạm tội và bị đánh trả thì vẫn là tội trộm cắp tài sản với tình tiết định khung hình phạt: “hành hung để tẩu thoát” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 138 BLHS.

Nguyễn Quốc Quân, ngựa quen đường cũ

Chiều 28/4 vừa qua, Cơ quan An ninh Điều tra (ANĐT) - Tổng cục An ninh - Bộ Công an đã công bố về việc bắt giữ Nguyễn Quốc Quân, trung ương ủy viên của tổ chức khủng bố Việt Tân khi ông ta nhập cảnh vào Việt Nam dưới tên giả là Richard Nguyen để thực hiện âm mưu khủng bố nhân dịp kỷ niệm Ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng 30-4 và Quốc tế lao động 1-5.

Ngày 17/4/2012, trong khi tiến hành làm thủ tục nhập khẩu cho hành khách tại cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, cơ quan chức năng đã phát hiện một công dân Mỹ có tên Richard Nguyen, hộ chiếu số 469267405, chính là Nguyễn Quốc Quân (còn có những tên khác là Lê Trung, Tuấn Anh, Chu Cảnh Lâm), trung ương ủy viên của tổ chức khủng bố Việt Tân. Ngay sau đó, Cơ quan ANĐT - Bộ Công an đã thi hành lệnh bắt, khám xét khẩn cấp đối với Nguyễn Quốc Quân, sinh năm 1953, nơi ở số 8276, Oakbark, Ct ElkGrove CA 95785, Mỹ, về hành vi tổ chức hoạt động khủng bố.

Tiếp đó, Cơ quan ANĐT - Bộ Công an ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tạm giam 4 tháng đối với Nguyễn Quốc Quân để điều tra về tội "Khủng bố nhằm chống lại chính quyền nhân dân", được quy định tại Điều 84 Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

nguyen quoc quan
Nguyễn Quốc Quân

Nguyễn Quốc Quân là ai?

Sinh ngày 20/11/1953 tại Hà Nội. Năm 1954, Nguyễn Quốc Quân  cùng gia đình di cư vào Nam. Từ 1965 đến 1975, Quân học tiểu học, rồi trung học và đại học tại Sài Gòn. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Nguyễn Quốc Quân là giáo viên tại thị trấn Rạch Sỏi, TP Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Tháng 8/1981, ông ta vượt biên rồi định cư tại bang California, Mỹ. Trước đó, năm 1980, tại California, Mỹ, Hoàng Cơ Minh, nguyên là phó đề đốc Hải quân Sài Gòn đã thành lập tổ chức phản động mang tên "Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam", quy tụ một số thành phần là sĩ quan, binh lính chế độ cũ với mục đích hoạt động vũ trang phá hoại, tiến tới lật đổ Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Tháng 6/1981, Hoàng Cơ Minh lập "căn cứ kháng chiến" tại Udon để thu nạp số thanh niên vượt biên đang ở các trại tị nạn Thái Lan, Indonesia… rồi tiến hành huấn luyện vũ trang để đưa về Việt Nam hoạt động khủng bố.

Ngày 10/9/1982, tại căn cứ Udon, Hoàng Cơ Minh đã tổ chức đại hội rồi lập ra cơ quan trung ương đầu não, chỉ huy mọi hoạt động của Mặt trận, gọi là "Việt Nam Canh tân Cách mạng đảng", viết tắt là "Việt Tân". Thành viên ban chấp hành trung ương Việt Tân đồng thời cũng là thành viên ban lãnh đạo "mặt trận". Cương lĩnh của "Việt Tân" xác định mục tiêu là phá hoại nhằm lật đổ Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tháng 6/1986, Nguyễn Quốc Quân gia nhập tổ chức phản động "Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam". Do có học vị là tiến sĩ Toán, bọn cầm đầu "mặt trận" giao cho Nguyễn Quốc Quân lập trình phần mềm tin học quản trị thành viên, cùng thiết lập hệ thống quản lý hồ sơ nhân sự  cho "mặt trận". (Lúc bị Cơ quan An ninh Việt Nam bắt trong lần xâm nhập trái phép về Việt Nam ngày 17/11/2007, Nguyễn Quốc Quân đã khai rõ về mã nguồn của phần mềm này, cùng tổ chức, nhân sự và kế hoạch hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam của Việt Tân từ 2006 đến 2010).

Sau khi cái gọi là "chiến dịch Đông tiến 1, 2, 3" thất bại, Hoàng Cơ Minh bị dân quân, bộ đội cách mạng Lào bắn chết trên đường xâm nhập qua đất Lào để vào Việt Nam tổ chức vũ trang bạo loạn, bọn chóp bu "mặt trận" như rắn mất đầu nhưng chúng vẫn không từ mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá Nhà nước Việt Nam.

Tháng 9/1990, nhằm tạo vỏ bọc quy tụ những đối tượng người Việt cực đoan, phản động, cùng những trí thức không am hiểu tình hình đất nước để thực hiện âm mưu khủng bố, lật đổ chính quyền, bọn cầm đầu Việt Tân chỉ đạo Nguyễn Quốc Quân thành lập cái gọi là "hội chuyên gia Việt Nam" do Vũ Quý Kỳ làm chủ tịch, Nguyễn Quốc Quân là tổng thư ký, trong đó Nguyễn Quốc Quân được phân công soạn thảo các tài liệu tuyển lựa nhân sự, tài liệu an ninh nội bộ, viết phần mềm mã hóa thông tin dưới hình thức ngụy trang, có tên gọi "bói Kiều",  hướng dẫn các thành viên trong tổ chức học tập các bài về an ninh, các phương pháp khủng bố. Bên cạnh đó, Việt Tân còn thành lập các tổ chức ngoại vi như "Liên minh Việt Nam tự do", "Ủy ban vận động chính trị người Mỹ gốc Việt", "Mạng lưới tuổi trẻ  Việt Nam lên đường"...

nguyen quoc quan
Căn cước giả của Nguyễn Quốc Quân khi xâm nhập Việt Nam trái phép lần thứ nhất.

Lần xâm nhập thứ nhất

Đầu năm 2007, sau nhiều ngày họp hành, bàn bạc, bọn cầm đầu Việt Tân cho ra đời một kế hoạch mà chúng đặt tên là "Kế hoạch sang sông". Nội dung của kế hoạch này  gồm việc cử người về Việt Nam dưới hình thức thăm thân nhân, du lịch hoặc tìm kiếm cơ hội đầu tư  rồi thông qua đó, chụp ảnh, vẽ sơ đồ, tìm hiểu quy luật làm việc của những cơ quan trọng yếu của Nhà nước Việt Nam (mà nhóm Mai Hữu Bảo, Nguyễn Thị Xuân Trang, Nguyễn Tấn Anh đã bị bắt quả tang khi đang chụp ảnh Cơ quan Bộ Công an phía Nam vào ngày 3/4/2008 là một điển hình), đồng thời cử người xâm nhập trái phép qua ngả biên giới Việt Nam - Campuchia, tổ chức các trạm giao liên, các chỗ trú chân để hình thành một đường dây đưa người, vũ khí, chất nổ vào Việt Nam tiến hành khủng bố.

Một trong những thành viên được bọn cầm đầu Việt Tân điều sang thực hiện "Kế hoạch sang sông" chính là Nguyễn Quốc Quân. Tháng 10/2007, sau khi  trực tiếp soạn thảo truyền đơn để đưa về Việt Nam tán phát, Nguyễn Quốc Quân đã xâm nhập Việt Nam trái phép theo lối mòn của dân buôn thuốc lá lậu ở khu vực cửa khẩu Mộc Bài, tỉnh Tây Ninh, rồi tìm hiểu đường đi lối lại, từ Mộc Bài về TP HCM.

Đầu tháng 11/2007, Nguyễn Quốc Quân quay về Mỹ, báo cáo cho bọn cầm đầu Việt Tân biết kết quả của chuyến xâm nhập. Ngày 9/11/2007, Quân từ Mỹ sang Thái Lan, gặp Nguyễn Hải (tức Khunmi Somsak, Nguyễn Quang Phục) rồi cùng Hải đi Campuchia. Tại đây, Quân được Nguyễn Ngọc Đức, là "trung ương ủy viên Việt Tân" giao cho 2 điện thoại di động số Campuchia, 3 simcard số Việt Nam cùng một chứng minh nhân dân Campuchia giả mạo, mang tên Ly Seng.

Thời điểm này, Nguyễn Thị Thanh Vân, Trương Văn Sĩ (tức Trương Leon), theo chỉ đạo của bọn Việt Tân, cũng đã nhập cảnh Việt Nam dưới vỏ bọc thăm thân nhân, để cùng phối hợp với Nguyễn Quốc Quân tiến hành âm mưu khủng bố.

Ngày 17/11/2007, lần lượt Nguyễn Thị Thanh Vân, Trương Văn Sĩ, Nguyễn Hải  đến nhà Nguyễn Thế Vũ. Trước đó, theo chỉ đạo của Nguyễn Đức Thuận - thành viên Việt Tân ở Oslo, Na Uy, Vũ đã thu thập danh sách và địa chỉ của hơn 40 công ty và 7.000 địa chỉ cá nhân ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước. Tại nhà Vũ, căn cứ vào những địa chỉ mà Nguyễn Thế Vũ cung cấp, cả bọn cho truyền đơn vào phong bì rồi cắt, dán tên người nhận. Nội dung truyền đơn kêu gọi người dân đứng lên vũ trang bạo loạn, kêu gọi công nhân đình công, gây bất ổn trong xã hội, kêu gọi gia nhập tổ chức Việt Tân rồi nương theo đó, Việt Tân sẽ lật đổ chính quyền. Tuy nhiên, khi cả bọn đang tiến hành cắt dán thì bị Cơ quan An ninh Việt Nam bắt quả tang.

Những ngày trong trại tạm giam, Trương Leon đã thành khẩn khai báo về tổ chức Việt Tân, về Nguyễn Thành Công, Nguyễn Quốc Quân, Nguyễn Thị Thanh Vân và về âm mưu khủng bố mà Trương Leon và đồng bọn trực tiếp thực hiện.

Ngày 7/12/2007, Trương Leon viết đơn xin khoan hồng, trong đó có đoạn: "...quá trình bị bắt, làm việc với Cơ quan Điều tra, tôi được đối xử rất đàng hoàng, cán bộ làm việc khách quan, đúng quy định pháp luật, tôi không bị áp bức, bị ép cung, mớm cung, không bị nhục hình...".

Tiếp theo, Trương Leon viết: "Tôi xin hứa khi được Nhà nước Việt Nam khoan hồng, trở về Mỹ, tôi sẽ không tham gia tổ chức Việt Tân cũng như bất kỳ tổ chức nào có mục đích chống phá Nhà nước Việt Nam". Ấy vậy mà khi vừa đặt chân đến Mỹ - dưới sự giật dây của bọn cầm đầu Việt Tân, Trương Leon đã lộ ra bộ mặt của một kẻ tráo trở, vu khống, bịa đặt: "Tôi bị bỏ đói, bị hăm dọa. Tất cả những gì tôi khai đều do Công an Việt Nam viết sẵn rồi ép tôi phải ký vào...".

Bị bỏ đói mà khi xách túi hành lý ra khỏi trại giam, Trương Leon mặt mũi hồng hào, béo nung núc. Bị hăm dọa mà Trương Leon lại cảm ơn các cán bộ quản lý trại giam, cán bộ điều tra rất chân thành. Bị "ép" ký nhưng những gì Trương Leon ký, lại do chính tay ông ta viết ra trên giấy trắng mực đen.

Cùng một giuộc như thế, Nguyễn Thị Thanh Vân, Việt kiều Pháp, sinh ngày 4/6/1956 tại Sài Gòn, tham gia tổ chức khủng bố Việt Tân năm 1993 qua sự giới thiệu của các "ủy viên trung ương" Nguyễn Ngọc Đức và Trần Đức Tường, rồi được phân công làm biên tập viên của "Tập san dân chủ". Sau đó, là phát thanh viên của đài phát thanh "Chân trời mới" dưới cái tên Thanh Thảo. Trên tờ tạp chí và trên đài phát thanh này, Nguyễn Thị Thanh Vân thường xuyên có những bài viết, bài đọc, xuyên tạc tình hình, nói xấu, vu khống Nhà nước Việt Nam.

Khi bị bắt, Nguyễn Thị Thanh Vân luôn than thở, rằng: "Do thiếu hiểu biết về tình hình trong nước nên tôi đã bị lừa. So sánh với những gì mắt thấy, tai nghe trong thời gian ở TP HCM, tôi thấy nội dung của truyền đơn Việt Tân kêu gọi lật đổ chính quyền là hoàn toàn không phù hợp...". Nhưng cũng như Trương Leon, lúc đặt chân về lại đất Pháp, theo chỉ đạo của bọn Việt Tân, Nguyễn Thị Thanh Vân lại mồm loa mép giải, dựng chuyện, bịa đặt về thời gian chị ta bị giam giữ. Những lời lẽ sai sự thật này, được bọn Việt Tân tung lên mạng Internet, lên đài phát thanh "Chân trời mới", lên "Tập san dân chủ" nhưng vẫn chẳng bịp được ai.

Sáng 17/11/2007, Ly Seng quay lại biên giới Việt Nam - Campuchia, và khi vừa vượt qua biên giới thì bị cơ quan chức năng tỉnh Tây Ninh bắt giữ với lý do xuất nhập cảnh trái phép. Kiểm tra trong người ông ta, chỉ duy nhất có một thẻ căn cước Campuchia với tên Ly Seng.

Thoạt đầu, Nguyễn Quốc Quân vẫn cứ khăng khăng cho rằng mình là người… Campuchia, và nếu có tội thì chỉ là tội nhập cảnh trái phép! Tuy nhiên, trước những chứng cứ cụ thể, Nguyễn Quốc Quân đã thú nhận căn cước Campuchia là căn cước giả, Ly Seng là tên giả, còn bản thân ông ta là “trung ương ủy viên Việt Tân”.

Sau khi bị bắt, Nguyễn Quốc Quân đã thành khẩn khai báo về tổ chức khủng bố Việt Tân và kế hoạch xâm nhập Việt Nam là để kiểm tra đường dây bất hợp pháp làm cơ sở cho những lực lượng về sau này. Bên cạnh đó, ông ta  còn khai rõ về "kế hoạch Đông tiến 07", "ban phát triển quốc nội", "nhóm công tác C21", cũng như tên tuổi, chức vụ của từng đồng bọn trong tổ chức Việt Tân. Ngày ra tòa, căn cứ theo luật pháp Việt Nam, tòa đã tuyên phạt Nguyễn Quốc Quân  6 tháng tù giam, trục xuất về Mỹ sau khi hết hạn tù, Nguyễn Hải 9 tháng từ giam, quản chế 3 năm tại địa phương (tỉnh Khánh Hòa) sau khi hết hạn tù, và Nguyễn Thế Vũ  5 tháng 26 ngày tù giam, 1 năm quản chế...

Lần xâm nhập thứ hai

Sau lần bị bắt thứ nhất, và mặc dù đã viết đơn nhìn nhận tội lỗi đồng thời xin được khoan hồng nhưng khi trở về Mỹ, Nguyễn Quốc Quân vẫn không từ bỏ ý định chống phá, lật đổ  Nhà nước Việt Nam. Trên trang web của tổ chức khủng bố Việt Tân, Nguyễn Quốc Quân qua nhiều bài viết, đã công khai bộc lộ ý đồ này.

Từ cuối năm 2008 đến 2011, Nguyễn Quốc Quân thường xuyên sang Malaysia, Thái Lan để huấn luyện cho các thành viên "Việt Tân" về kỹ năng bảo mật thông tin và phương pháp đấu tranh bất bạo động tại Việt Nam.

Ngày 17/4/2012, thực hiện ý đồ của tổ chức khủng bố "Việt Tân", Nguyễn Quốc Quân đã xâm nhập về Việt Nam bằng cái tên Richard Nguyen nhằm thực hiện kế hoạch kích động biểu tình, khủng bố, phá hoại lễ kỷ niệm 30-4 và 1-5 năm 2012 tại TP HCM và một số tỉnh, thành phố khác. Hành vi nêu trên của Nguyễn Quốc Quân đã phạm vào tội "Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân" quy định tại Điều 84 Bộ luật Hình sự.

Sau khi bị bắt, thái độ của Nguyễn Quốc Quân thành khẩn, thừa nhận hành vi phạm tội của mình và đồng bọn, đồng thời tích cực hợp tác với Cơ quan ANĐT trong khai báo. Hiện tại, Cơ quan ANĐT - Bộ Công an vẫn đang tiếp tục xác minh làm rõ hành vi phạm tội của Nguyễn Quốc Quân và đồng bọn để đưa ra xử lý trước pháp luật

37 năm bị bịt miệng trên xứ sở tự do

Nhà báo, chủ báo bị chụp mũ, vu khống, sỉ nhục, bị đánh đập dã man hoặc thủ tiêu, ám sát. Tòa soạn báo bị côn đồ khủng bố, đốt cháy, bao vây gây náo loạn cả năm trời. Nhiều người bị ngăn cấm đọc báo, nghe đài... Đây là thực trạng nhức nhối, kéo dài suốt 37 năm qua, là “khổ nạn” của báo chí Việt trên đất Mỹ. Phan Nhật Nam - một cây bút chống cộng khét tiếng từ trước và sau năm 1975, phải cay đắng thốt lên: “Những người làm văn, làm báo ở đây (Mỹ) đang phải chịu đựng một áp lực tồi tệ”... (Phan Nhật Nam trả lời Lệ Hằng - đã đăng trên nhiều trang web). Nhà văn Nhật Tiến thì than thở: “Không có đủ tự do cho những người cầm bút ở hải ngoại...” (trích từ “Sống và viết trên đất Mỹ” - Thế Uyên tháng 4-1998, đã đăng trên “Tiền vệ”). Tại sao trên xứ sở tự do như Hoa Kỳ lại có chuyện đàn áp báo chí khốc liệt như vậy?

Kỳ 1: VÀI NÉT LỊCH SỬ BÁO VIỆT TRÊN ĐẤT MỸ

Ngày 30-4-1975, kết thúc sự tồn tại của chính thể Việt Nam cộng hòa (VNCH). Hai ngày sau, tại đảo Guam, tờ báo đầu tiên của người Việt tại Mỹ ra đời với tên gọi Chân trời mới. Tại thời điểm đó, trên đảo Guam có hơn 100 ngàn người Việt (gồm binh lính, sĩ quan, công chức chế độ VNCH vừa sụp đổ) được máy bay, tàu chiến bốc ra đang chờ sang Mỹ định cư.

Ồ ẠT RA ĐỜI RỒI... CHẾT YỂU!

Tờ Chân trời mới mỗi tuần ra năm số, mỗi số phát hành từ 5 - 10 ngàn bản. Đến cuối tháng 10-1975, tờ báo này cũng đóng cửa theo trại tạm cư Guam (theo BBC ra ngày 18-4-2005).

Tiếp đó, trong cộng đồng người Việt di tản trên đất Mỹ ra đời thêm một số tờ báo như: Đất mới (7-1975), Đất lành (8-1975), Văn nghệ tiền phong (11-1975), Tin yêu (2-1976), Việt báo (7-1976)... Tổng cộng trong hai năm 1975 - 1976 có tới 45 tờ báo Việt ra đời.

Những năm sau đó, cùng với làn sóng người Việt ồ ạt nhập cư vào Mỹ, báo chí (bao gồm báo in, truyền hình, truyền thanh và Internet) tiếng Việt càng nảy nở nhộn nhịp. Đến nay - 37 năm hình thành cộng đồng Việt tại Mỹ, đã có hàng trăm cơ sở báo chí ra đời hoặc... biến mất. Nhiều tờ báo khai trương ồn ào, phát hành được... một số rồi “tắt”. Như tờ Tin Văn của Hoàng Dược Sư ra một số duy nhất vào tháng  9-1975 với 15.000 bản in, sau đó... hết vốn, đóng cửa. Tờ Quê Hương của Du Tử Lê cũng đoản mệnh sau khi số thứ hai được phát hành. Có tờ như KBC Hải ngoại chết đi sống lại không biết bao nhiêu lần và mỗi lần “tái sinh” lại có một chủ mới...

Sở dĩ có tình trạng lạ lùng kể trên là vì ở Mỹ muốn ra một tờ báo rất dễ, dễ đến mức ai cũng có thể là chủ báo, nhà báo. Có người ví von: “Làm báo ở Mỹ dễ hơn lái xe. Bởi lái xe còn đòi hỏi bằng cấp, làm báo chẳng cần bằng cấp...”. Cũng có những người Việt tốt nghiệp các khoa, trường đào tạo báo chí của Mỹ nhưng hầu hết không tham gia làm báo Việt bởi thu nhập thấp và tương lai bấp bênh. Họ làm việc cho các cơ quan truyền thông của Mỹ. Có những tờ báo chỉ một người làm, “công nghệ” chính là cắt, dán. Cứ lấy tin báo khác đưa sang báo của mình, chẳng cần tính đến bản quyền. Báo loại này chỉ sống nhờ quảng cáo. Báo in xong, đem đi cho là chính. Trên trang web BBC tiếng Việt ngày 22-7-2007 đăng ý kiến của một độc giả người Việt ở Mỹ: “Ở Cali quơ tay là có hàng chục tờ báo (tiếng Việt) rơi rớt trong các tiệm phở, ngõ ngách các khu chợ, siêu thị. Chục tờ như một toàn nhai đi nhai lại, copy trên mạng, kể cả các “tin Việt Nam” đều từ các báo điện tử Việt Nam mà ra... Đa số “báo chợ” không có một phóng viên, chỉ có vài người lên mạng “sao y bản chính”. Nhà báo kỳ cựu Sơn Điền - Nguyễn Viết Khánh từng viết về một kỷ niệm buồn với báo Việt ở Mỹ: “Tình cờ ra chợ, thấy chồng báo để dưới đất cho thiên hạ lượm. Những tờ báo trang trọng đẹp đẽ, trong đó có biết bao tâm tư trí não đã gửi gắm thành văn bị chà đạp bởi bước chân vô tình của khách qua đường...”. Nhà báo Nguyễn Ngọc Bích (Giám đốc chương trình Việt ngữ đài CATD) trong bài “Người Việt hải ngoại và công tác truyền thông hải ngoại”, cho biết: “Báo Việt ngữ ở hải ngoại phần lớn (95 - 98%) là báo của một gia đình. Vợ chồng với đôi ba người thân phụ giúp... Các tin có thể viết dông dài, văn bất thành cú mà vẫn được đăng vì tờ báo có nhiều chỗ trống cần trám hoặc vì là chỗ quen biết... Đây là cách làm báo tiểu công nghệ”...

Ra một tờ báo quá dễ như vậy nên báo Việt ở Mỹ nhiều đến mức không đếm xuể. Cây bút chống cộng Phan Nhật Nam trong lần trả lời phỏng vấn Lệ Hằng, đã mỉa mai: “Chỉ riêng vùng Orange County (Nam California - USA) đã có hơn 200 hội đoàn, số lượng báo cũng xấp xỉ như nhu cầu hội đoàn này...”. Trong bài nói chuyện tại trụ sở cộng đồng Dallas ngày 12-11-2005, nhà báo Phan Thanh Tâm cho biết: “Có người ví trên trời có bao nhiêu ngôi sao thì quận Cam (nơi có đông người Việt định cư) có bấy nhiêu tờ báo. Tờ này chết, tờ khác phanh ngực tiến lên...”. Trong bài “Người Việt hải ngoại và công tác truyền thông đại chúng”, nhà báo Nguyễn Ngọc Bích có cùng quan điểm: “Riêng vùng tôi ở, Washington D.C và ngoại ô Virginia và Maryland, có chừng 60 ngàn người Việt Nam, mà có đến hơn mười tờ tuần báo (Việt ngữ) ra hàng chục năm nay. Nếu mỗi tờ in 3.000 bản mỗi tuần, thì ta cũng có con số 30 nghìn bản các loại một tuần. Có nghĩa là cứ hai người Việt từ tuổi sơ sinh đến lúc bạc đầu thì đã có một tờ báo Việt ngữ để đọc một tuần... Rất nhiều người thuộc lòng những giờ báo được phát đến các cơ sở thương mại, để nhanh chân đến đó lấy trước khi người ta lấy hết...”.

Trang web Bulletin ngày 13-6-2005, đăng phát biểu của tác giả Phạm Nam Vinh: “Ở thủ đô tị nạn này (quận Cam - California) chẳng mấy ai quan tâm đến sự báo này vừa ra, báo nọ âm thầm lặng lẽ đóng cửa. Có khi cầm một tờ báo trên tay mà chẳng biết nó ra hàng tuần hay nửa tháng, hay một tháng, ba tháng. Có tờ tìm đỏ con mắt không biết chủ nhiệm, chủ bút, ban biên tập là những ai. Ngay đến địa chỉ báo quán ở đâu cũng chẳng thấy nữa...”. Mỹ là xứ sở phát triển khoa học kỹ thuật bậc nhất thế giới. Nhưng hơn mười năm sau khi ra đời, báo Việt ngữ ở Mỹ sau khi in xong phải bỏ dấu bằng tay, trông lem luốc. Đến đầu những năm 90 thế kỷ 20, kỹ sư Hồ Thành Việt của Công ty VNI cho ra đời phần mềm tiếng Việt, nhờ đó báo Việt ở hải ngoại mới thoát được nạn “bỏ dấu bằng tay”!


Phản động là gì?

Đó là những tổ chức, cá nhân rảnh hơi, đi tuyên truyền những luận điệu xuyên tạc không đúng với sự thật nhằm bôi nhọ đồng bào, Tổ Quốc mình.
Trong xã hội hiện nay, khi mọi người đang sống trong hòa bình, mong muốn đi làm kiếm tiền để có một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, thì những kẻ phản động chẳng chịu đi làm kinh tế kiếm tiền mà thích chọc ngoáy khắp nơi. Bọn chúng cũng có mục đích hẳn hoi. Đó là ao ước được làm lãnh đạo, làm Tổng Thống như Lê Công Định chẳng hạn. Nhưng việc lật đổ chính quyền thì đó chỉ là điều hoang tưởng.

Nguyễn Văn Lý
Kẻ mang trong mình dòng máu Việt nam, nhưng lại chống lại đồng bào, chống lại dân tộc.


home